Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Đề án xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật" tạo nền tảng dữ liệu cho quản trị pháp luật thông minh
10/10/2026
Ngày 08/10/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1949/QĐ-TTg phê duyệt "Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật". Đây là bước đi quan trọng nhằm hình thành hạ tầng dữ liệu pháp luật thống nhất, có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác thông minh, phục vụ công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, đồng thời tạo nền tảng dữ liệu tin cậy cho ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực pháp luật.
Hình thành hạ tầng dữ liệu pháp luật thống nhất, dùng chung
Đề án xác định Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật là hạ tầng dữ liệu pháp luật ở quy mô quốc gia, được hình thành trên cơ sở tích hợp, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và các cơ sở dữ liệu pháp luật có liên quan. Trong đó, văn bản quy phạm pháp luật là dữ liệu lõi; dữ liệu được tổ chức theo toàn bộ “vòng đời” của văn bản quy phạm pháp luật, từ quá trình xây dựng, ban hành đến tổ chức thi hành và đánh giá thực tiễn thực hiện.
Mục tiêu xuyên suốt là bảo đảm dữ liệu pháp luật “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; từng bước chuẩn hóa, liên thông và nâng cao khả năng phân tích, khai thác dữ liệu. Cơ sở dữ liệu không chỉ phục vụ tra cứu văn bản, mà còn hướng tới cung cấp các dịch vụ dữ liệu và công cụ hỗ trợ phân tích, phát hiện mối liên hệ giữa các quy định, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạch định chính sách và hiệu quả quản trị pháp luật.
Phạm vi dữ liệu: Bao trùm, toàn diện, xuyên suốt vòng đời của văn bản
Phạm vi dữ liệu của Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật được xác định theo hướng tiếp cận hình thành một hệ sinh thái dữ liệu pháp luật hoàn chỉnh, phục vụ quản lý, theo dõi và khai thác xuyên suốt “vòng đời” của văn bản quy phạm pháp luật từ khi xây dựng đến tổ chức thi hành. Trong đó, Đề án ưu tiên tích hợp, hoàn thiện nhóm dữ liệu gốc từ các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và địa phương, đồng thời mở rộng các nguồn dữ liệu bổ trợ nhằm đáp ứng yêu cầu khai phá dữ liệu và phát triển các ứng dụng trí tuệ nhân tạo chuyên ngành.
Cụ thể, các nhóm dữ liệu được tích hợp bao gồm:
- Chủ trương, đường lối của Đảng: Hệ thống tư liệu, văn kiện từ Văn phòng Trung ương Đảng.
- Các nhóm dữ liệu liên quan tới pháp luật: Văn bản quy phạm pháp luật (từ CSDLQG về pháp luật); Điều ước quốc tế (Bộ Ngoại giao); Hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (trên Nền tảng số Pháp luật Việt Nam); Quyết định, bản án, án lệ của Tòa án nhân dân tối cao; Văn bản, tài liệu nghiệp vụ về thi hành pháp luật, kiểm tra, rà soát văn bản và phổ biến giáo dục pháp luật; Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính (Bộ Công an); Dữ liệu phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật và Dữ liệu về thủ tục hành chính.
- Nhóm dữ liệu bổ trợ: Tài liệu về pháp luật quốc tế (gồm văn bản pháp luật của các nước cạnh tranh trực tiếp trong nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư và các nước cần thúc đẩy đầu tư như Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp) cùng các tài liệu nghiên cứu, học thuật từ thư viện số của Bộ Tư pháp, các trường đại học luật và viện nghiên cứu pháp luật.
Việc tích hợp, kết nối không làm thay đổi trách nhiệm quản lý đối với dữ liệu nguồn của bộ, ngành, địa phương và cơ quan có thẩm quyền. Thông tin được bổ sung, tổng hợp từ các nguồn liên quan có tính chất tham khảo, phải được kiểm tra, xác thực theo quy định và không làm thay đổi giá trị pháp lý của dữ liệu tại nguồn. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm dữ liệu pháp luật được quản trị thống nhất nhưng vẫn duy trì tính chính xác, toàn vẹn, cập nhật và trách nhiệm giải trình của từng cơ quan quản lý dữ liệu.
Lộ trình triển khai với các mục tiêu cụ thể
Đề án đặt ra các mục tiêu theo từng giai đoạn, gắn với yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu và hình thành các năng lực khai thác thông minh.
Đến năm 2027, tập trung tái cấu trúc Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, hướng tới bảo đảm 100% dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật được biểu diễn theo định dạng tiêu chuẩn hỗ trợ máy đọc. Đồng thời, số hóa 100% hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đối với các văn bản được ban hành kể từ ngày 30/4/2025, thời điểm Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Giai đoạn 2028 - 2030, phấn đấu hoàn thành Kho dữ liệu pháp luật tập trung, tích hợp các nguồn dữ liệu pháp luật thành phần từ bộ, cơ quan và địa phương; xây dựng Đồ thị tri thức pháp luật quốc gia; phát triển các công cụ, nền tảng phục vụ tìm kiếm, phân tích và tiếp cận thông tin pháp luật theo hướng thông minh. Qua đó, từng bước chuyển từ khai thác dữ liệu theo từng nguồn riêng lẻ sang khai thác dữ liệu liên thông, có ngữ cảnh, hỗ trợ hoạt động quản lý và ra quyết định.
Đồng bộ thể chế, công nghệ, dữ liệu và nhân lực
Để bảo đảm triển khai đồng bộ, hiệu quả, Đề án đặt ra các nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn dữ liệu và thiết lập cơ chế quản trị, vận hành thống nhất. Trọng tâm là xây dựng quy chế quản lý, khai thác; chuẩn hóa dữ liệu pháp luật; hoàn thiện quy trình tạo lập, cập nhật, kết nối, tích hợp và kiểm tra chất lượng dữ liệu. Các nhiệm vụ này được triển khai gắn với xây dựng Đồ thị tri thức pháp luật, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực phân tích, khai thác dữ liệu.
Về hạ tầng và công nghệ, hệ thống được triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia theo phân công tại Đề án; trong đó, Bộ Công an chủ trì các nhiệm vụ về hạ tầng và bảo đảm an ninh mạng, Bộ Tư pháp chủ trì phát triển nền tảng công nghệ, quản trị và vận hành Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật. Việc mở rộng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phải gắn với yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước và kiểm soát rủi ro. Việc cung cấp, khai thác dữ liệu phục vụ người dân, doanh nghiệp, nghiên cứu và các mục đích khác được thực hiện theo quy định của pháp luật; đối với các sản phẩm thương mại, việc khai thác và cơ chế thu phí (nếu có) phải được xem xét phù hợp với pháp luật.
Bộ Tư pháp có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai, chủ trì tổ chức thực hiện và phối hợp với các bộ, ngành, địa phương. Các bộ, cơ quan, địa phương có trách nhiệm số hóa, tạo lập, cập nhật dữ liệu văn bản pháp luật, tích hợp với Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật bảo đảm tính đầy đủ, chính xác, kịp thời, an toàn của dữ liệu thuộc phạm vi quản lý; đồng thời bố trí kinh phí và các điều kiện cần thiết theo phân công tại Đề án và quy định hiện hành.
Tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và ứng dụng AI trong pháp luật
Khi được xây dựng đồng bộ và vận hành hiệu quả, Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật sẽ giúp người dân, doanh nghiệp tiếp cận thông tin pháp luật thuận tiện, nhanh chóng và có hệ thống hơn; hỗ trợ cơ quan nhà nước tra cứu, đối chiếu, theo dõi hiệu lực văn bản và nhận diện các quy định có liên quan. Dữ liệu được chuẩn hóa, có cấu trúc và có khả năng máy đọc cũng là điều kiện quan trọng để phát triển các dịch vụ số, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy văn hóa tuân thủ pháp luật.
Đề án đồng thời tạo nền tảng dữ liệu đầu vào có độ tin cậy cao cho các ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật. Khi dữ liệu được liên thông, chuẩn hóa và gắn với thông tin về nguồn, hiệu lực, thời điểm áp dụng, các công cụ AI có điều kiện hỗ trợ tốt hơn việc tìm kiếm, tổng hợp, so sánh quy định và cung cấp thông tin pháp luật. Tuy nhiên, AI là công cụ hỗ trợ; việc kiểm tra căn cứ pháp lý, đánh giá nội dung và đưa ra quyết định vẫn phải gắn với trách nhiệm của con người và cơ quan có thẩm quyền.
Tiếp tục hoàn thiện Đề án Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
Song song với việc triển khai Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật, Bộ Tư pháp đang trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt Đề án Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Định hướng của Đề án này là lấy dữ liệu pháp luật (từ Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật) làm nền tảng, AI là công cụ hỗ trợ, con người giữ vai trò quyết định và chịu trách nhiệm cuối cùng. Trong giai đoạn 2026-2027, AI dự kiến được ứng dụng hỗ trợ nghiên cứu, so sánh, soạn thảo, thẩm định, kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; góp phần phát hiện căn cứ pháp lý, tình trạng hiệu lực, vấn đề về thể thức, mâu thuẫn hoặc chồng chéo. Giai đoạn 2028-2030 hướng tới mở rộng hỗ trợ đánh giá tác động chính sách, đánh giá tình hình thi hành pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, dịch thuật pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Các ứng dụng này cần đi kèm cơ chế giám sát của con người, kiểm chứng nguồn thông tin và bảo đảm an toàn, bảo mật.
Bước tiến hướng tới quản trị pháp luật thông minh
Việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật thể hiện quyết tâm chuyển đổi từ quản lý thông tin pháp luật phân tán sang quản trị dựa trên dữ liệu kết nối, chuẩn hóa và có khả năng khai thác sâu. Nếu được triển khai đồng bộ, đúng lộ trình và bảo đảm chất lượng dữ liệu, Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật sẽ góp phần nâng cao chất lượng xây dựng, hoàn thiện pháp luật; hỗ trợ tổ chức thi hành pháp luật; tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và mở ra điều kiện phát triển các công cụ AI đáng tin cậy trong lĩnh vực pháp luật.
Để đạt được mục tiêu đó, yếu tố quyết định không chỉ là công nghệ hay hạ tầng, mà còn là chất lượng dữ liệu nguồn, trách nhiệm cập nhật của từng cơ quan, cơ chế phối hợp liên thông và năng lực tổ chức khai thác. Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật vì vậy cần được nhìn nhận như một hạ tầng dùng chung có ý nghĩa lâu dài, phục vụ đổi mới quản trị quốc gia và xây dựng Nhà nước pháp quyền trong môi trường số.
File đính kèm
