Siết chặt kỷ luật, đề cao trách nhiệm và tăng cường yêu cầu tuân thủ trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
24/09/2026
Infographic tuyên truyền
Ngày 17/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Quy định gồm 4 chương, 60 điều, có hiệu lực từ ngày ký, thay thế Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 và Quy định số 264-QĐ/TW ngày 14/02/2025. Đáng chú ý, Quy định số 212-QĐ/TW dành nội dung cụ thể cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời quy định rõ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi xem xét xử lý kỷ luật.
Làm rõ phạm vi và nguyên tắc xử lý kỷ luật
Quy định số 212-QĐ/TW xác định đối tượng áp dụng gồm các tổ chức đảng và đảng viên; trong đó bao gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ, giải thể, kết thúc hoạt động, được chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất; đảng viên bị tuyên bố mất tích, đảng viên đã qua đời nhưng có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng và đảng viên ở nước ngoài. Trường hợp có nội dung vi phạm chưa được quy định cụ thể, việc xử lý được căn cứ vào Điều lệ Đảng, chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định có liên quan.
Một nguyên tắc xuyên suốt được Quy định nhấn mạnh là tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng, đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải được xem xét kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời.
Việc thi hành kỷ luật phải bảo đảm đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục và thẩm quyền; đồng thời yêu cầu tính chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác và nghiêm minh.
Đặc biệt, khi xem xét kỷ luật, cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ toàn diện vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; ý thức, thái độ tự phê bình, tiếp thu phê bình và kết quả sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm.
Các hình thức kỷ luật được quy định cụ thể
Theo Quy định số 212-QĐ/TW, đối với tổ chức đảng, các hình thức kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo và giải tán.
Đối với đảng viên chính thức, các hình thức kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức nếu có chức vụ và khai trừ. Đối với đảng viên dự bị, các hình thức kỷ luật gồm khiển trách và cảnh cáo.
Quy định cũng nhấn mạnh việc xem xét trách nhiệm phải gắn với từng hành vi và từng chủ thể có liên quan. Trong trường hợp cùng một thời điểm có nhiều hành vi vi phạm, từng hành vi phải được xem xét, kết luận; sau đó quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất, không tách riêng để áp dụng nhiều hình thức kỷ luật cho cùng một thời điểm xem xét.
Điểm đáng chú ý: quy định cụ thể tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng
Một trong những nội dung cần được cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng quan tâm là quy định về tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng mức kỷ luật tại Điều 5 và Điều 6 Quy định số 212-QĐ/TW.
Những tình tiết được xem xét giảm nhẹ mức kỷ luật
Đối với tổ chức đảng, các tình tiết giảm nhẹ gồm:
- Chủ động, kịp thời báo cáo vi phạm với tổ chức đảng cấp trên trước và trong quá trình kiểm tra, giám sát; kiểm điểm nghiêm túc, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm và tự nhận hình thức kỷ luật tương xứng.
- Chủ động cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu, chứng cứ và phản ánh đầy đủ, trung thực về vi phạm.
- Chủ động chấm dứt hành vi vi phạm, đồng thời kịp thời khắc phục cơ bản hậu quả do tổ chức mình gây ra.
- Giúp tổ chức đảng có thẩm quyền kiểm tra, xem xét và xử lý chính xác, kịp thời tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.
Đối với đảng viên, các tình tiết giảm nhẹ gồm:
- Chủ động báo cáo vi phạm, tự giác nhận trách nhiệm cá nhân và tự nhận hình thức kỷ luật tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ vi phạm.
- Chủ động cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu, chứng cứ và phản ánh đầy đủ, trung thực về những người cùng vi phạm.
- Chủ động chấm dứt hành vi vi phạm; tích cực tham gia ngăn chặn hành vi vi phạm; tự giác nộp lại tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả.
- Vi phạm xảy ra trong quá trình thực hiện chủ trương đổi mới, sáng tạo được cấp có thẩm quyền cho phép theo quy định, không thuộc trường hợp bị loại trừ.
- Bản thân là thương binh, người có công hoặc là con đẻ của liệt sĩ, thương binh, người có công.
Như vậy, Quy định không chỉ tập trung vào việc xác định và xử lý hành vi vi phạm mà còn ghi nhận thái độ tự giác, tinh thần hợp tác, trách nhiệm khắc phục hậu quả và kết quả sửa chữa vi phạm trong quá trình xem xét kỷ luật.
Những tình tiết phải xem xét tăng nặng mức kỷ luật
Đối với tổ chức đảng, các tình tiết tăng nặng bao gồm việc không kịp thời khắc phục, sửa chữa khuyết điểm; không tự giác nhận vi phạm; trù dập người đấu tranh, tố cáo, làm chứng hoặc cung cấp chứng cứ; cản trở quá trình thẩm tra, xác minh; bao che, che giấu vi phạm.
Đáng chú ý, Quy định đề cập cụ thể hành vi cung cấp thông tin, báo cáo sai sự thật; che giấu, sửa chữa, tiêu hủy tài liệu, chứng cứ; lập hồ sơ, tài liệu, chứng cứ giả để đối phó; chỉ đạo xóa dữ liệu hoặc lợi dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số để hợp thức hóa, che giấu hồ sơ, tài liệu liên quan đến vi phạm.
Ngoài ra, việc lợi dụng tình trạng khẩn cấp, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, chính sách an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh để trục lợi; vi phạm từ hai lần trở lên, có tính hệ thống hoặc đã bị kỷ luật nhưng tiếp tục vi phạm; cố tình trì hoãn, kéo dài quá trình xem xét, xử lý, khắc phục cũng là những tình tiết phải xem xét tăng nặng.
Đối với đảng viên, các tình tiết tăng nặng bao gồm không thực hiện yêu cầu kiểm điểm, không sửa chữa khuyết điểm; không tự giác nhận vi phạm; không bồi hoàn, không khắc phục hậu quả; đối phó, quanh co, cản trở hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; bao che, đe dọa, trù dập hoặc trả thù người đấu tranh, tố cáo, người làm chứng, người cung cấp tài liệu, chứng cứ.
Quy định cũng xác định các tình tiết như vi phạm có tổ chức, là người chủ mưu; cung cấp thông tin, báo cáo sai sự thật; che giấu, sửa chữa, tiêu hủy chứng cứ; tạo lập hồ sơ, chứng cứ giả; xóa dữ liệu hoặc lợi dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số để hợp thức hóa, che giấu hồ sơ, tài liệu liên quan đến vi phạm là những trường hợp phải xem xét tăng nặng.
Đặc biệt, việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh; lợi dụng chính sách, cơ chế thí điểm, đặc thù hoặc chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo để trục lợi; ép buộc, vận động, tổ chức, tiếp tay cho người khác cùng vi phạm cũng thuộc nhóm tình tiết tăng nặng.
Quy định về thời hiệu kỷ luật
Quy định số 212-QĐ/TW quy định thời hiệu kỷ luật đối với tổ chức đảng là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức khiển trách và 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức cảnh cáo.
Đối với đảng viên, thời hiệu là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức khiển trách và 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức cảnh cáo hoặc cách chức. Không áp dụng thời hiệu đối với một số nhóm vi phạm nghiêm trọng, trong đó có vi phạm đến mức phải khai trừ hoặc giải tán, vi phạm về chính trị nội bộ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc; đối với đảng viên còn bao gồm việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.
Tăng cường kỷ luật trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Đối với Chi bộ cơ sở Cục Công nghệ thông tin - Đảng uỷ Bộ Tư pháp, một nội dung có ý nghĩa trực tiếp là việc Quy định số 212-QĐ/TW dành quy định cụ thể đối với lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo đó, đối với tổ chức đảng, Quy định đề cập trách nhiệm trong việc chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, xử lý vi phạm; không để xảy ra tình trạng buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo hoặc thiếu trách nhiệm để tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý vi phạm chủ trương, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực này.
Đối với đảng viên, Quy định đề cập những hành vi như cản trở, gây khó khăn cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hợp pháp; nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai, xử lý, sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định; thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu phục vụ phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định.
Đáng chú ý, Quy định cũng đề cập việc sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói, chữ ký của người khác; tạo lập, đăng tải, phát tán thông tin trái quy định. Đây là những nội dung cho thấy yêu cầu về kỷ luật, trách nhiệm và tuân thủ ngày càng gắn chặt với quá trình ứng dụng công nghệ mới và chuyển đổi số.
Gắn kỷ luật, kỷ cương với chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp
Trong quá trình chuyển đổi số ngành Tư pháp, việc xây dựng và vận hành các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đặt ra yêu cầu ngày càng cao về quản trị dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ hồ sơ, tài liệu và kiểm soát việc khai thác, sử dụng công nghệ.
Từ những quy định mới của Quy định số 212-QĐ/TW, có thể thấy yêu cầu về trách nhiệm không chỉ dừng ở việc chấp hành quy trình nghiệp vụ mà còn bao gồm trách nhiệm của tổ chức, người đứng đầu và từng cá nhân trong quản lý, khai thác và sử dụng công nghệ, dữ liệu và các hệ thống số đúng quy định. Đặc biệt, việc xóa dữ liệu, che giấu hồ sơ, tài liệu hoặc lợi dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số để hợp thức hóa hành vi vi phạm được xác định là tình tiết phải xem xét tăng nặng.
Đây cũng là nội dung có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động của Chi bộ cơ sở Cục Công nghệ thông tin, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ gắn với ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, phát triển và vận hành các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước của Bộ. Việc nâng cao nhận thức về trách nhiệm, kỷ luật và tuân thủ trong môi trường số góp phần bảo đảm các hệ thống được vận hành an toàn, đúng mục đích, đúng thẩm quyền và phù hợp với các quy định hiện hành.
Chủ động phòng ngừa, khắc phục vi phạm từ sớm
Quy định số 212-QĐ/TW không chỉ đặt ra yêu cầu xử lý nghiêm đối với hành vi vi phạm mà còn nhấn mạnh việc gắn xử lý kỷ luật với giáo dục, quản lý, khắc phục và sửa chữa khuyết điểm. Đồng thời, các tình tiết giảm nhẹ cho thấy vai trò của việc chủ động báo cáo, tự giác nhận trách nhiệm, cung cấp thông tin trung thực, chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả.
Đối với cán bộ, đảng viên làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin và chuyển đổi số, việc chủ động tuân thủ quy định về quản lý dữ liệu, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, sử dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa rủi ro. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm trong từng khâu tham mưu, xây dựng, triển khai, vận hành và khai thác hệ thống số; đồng thời kịp thời báo cáo, xử lý và khắc phục khi phát sinh vấn đề.
Quy định số 212-QĐ/TW là cơ sở quan trọng để tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; đồng thời đặt ra yêu cầu ngày càng rõ hơn về trách nhiệm của tổ chức và cá nhân trong môi trường quản trị hiện đại, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc chủ động nghiên cứu, quán triệt và thực hiện nghiêm Quy định góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có ý thức trách nhiệm, tinh thần nêu gương, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh và thúc đẩy chuyển đổi số ngành Tư pháp an toàn, hiệu quả, đúng quy định.
File đính kèm
