Chi bộ cơ sở Cục Công nghệ thông tin phổ biến, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 06-NQ/TW, Nghị quyết số 10-NQ/TW
10/07/2026
Infographic tuyên truyền Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng
Thực hiện Công văn số 924-CV/ĐU ngày 06/7/2026 của Đảng uỷ Bộ Tư pháp về việc tuyên truyền Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chi bộ cơ sở Cục Công nghệ thông tin triển khai tuyên truyền, quán triệt, tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, góp phần sớm đưa Nghị quyết vào cuộc sống.
Tuyên truyền những nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 06-NQ/TW về công tác đối ngoại trong tình hình mới
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, công tác đối ngoại tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước. Nghị quyết số 06-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương đã xác định rõ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định
Một trong những định hướng quan trọng của Nghị quyết là tiếp tục phát huy vai trò tiên phong và nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của công tác đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đồng thời xây dựng cục diện quan hệ đối ngoại thuận lợi để tập trung phát triển đất nước.
Theo đó, Việt Nam tiếp tục ưu tiên củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng và các quốc gia trong khu vực, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Song song với đó là chú trọng phát triển quan hệ ổn định, cân bằng với các nước lớn trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi; đồng thời tạo bước chuyển mạnh mẽ trong quan hệ với các đối tác quan trọng, các nước bạn bè truyền thống và các đối tác chiến lược.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu xử lý hiệu quả các vấn đề về biên giới, lãnh thổ trên cơ sở luật pháp quốc tế và các thỏa thuận đã ký kết; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa; kịp thời nhận diện, dự báo và hóa giải các nguy cơ, thách thức đối với an ninh quốc gia và lợi ích dân tộc.
Bên cạnh đó, Việt Nam tiếp tục chủ động, tích cực tham gia xây dựng và định hình các cấu trúc an ninh khu vực và toàn cầu, đóng góp có trách nhiệm vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới.
Đẩy mạnh đối ngoại phục vụ phát triển, lấy ngoại giao kinh tế làm trọng tâm
Nghị quyết xác định đối ngoại phải thực sự trở thành động lực quan trọng phục vụ phát triển đất nước, trong đó ngoại giao kinh tế giữ vai trò trung tâm, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và hiệu quả.
Theo đó, hoạt động đối ngoại cần tập trung hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, tiếp cận công nghệ tiên tiến, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và tăng cường hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực.
Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh việc phát huy vai trò đột phá của ngoại giao khoa học và công nghệ nhằm phục vụ quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và các ngành công nghệ chiến lược. Đây được xem là yếu tố quan trọng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, công tác đối ngoại cần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa đối tác, nguồn cung, nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, góp phần nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước những biến động của tình hình quốc tế.
Nâng cao vị thế, uy tín và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế
Một nhiệm vụ trọng tâm khác được Nghị quyết đặt ra là tiếp tục nâng cao vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại.
Việt Nam sẽ chủ động, tích cực tham gia cải cách và xây dựng các thể chế quốc tế cũng như khu vực; tham gia xây dựng luật chơi chung, đóng góp vào quá trình định hình xu hướng phát triển của kinh tế thế giới và khu vực theo hướng phù hợp với lợi ích quốc gia, đồng thời đóng góp vào hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của cộng đồng quốc tế.
Cùng với đó, việc phát huy sức mạnh mềm quốc gia tiếp tục được coi là nhiệm vụ quan trọng. Thông qua quảng bá văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam, lan tỏa các giá trị tốt đẹp của dân tộc và hình ảnh một Việt Nam hòa bình, ổn định, năng động, sáng tạo, trách nhiệm và hội nhập, đất nước sẽ tiếp tục nâng cao uy tín, sức hấp dẫn và ảnh hưởng trên trường quốc tế.
Đối ngoại nhân dân, ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại và công tác bảo hộ công dân cũng sẽ tiếp tục được triển khai đồng bộ, góp phần tăng cường sự gắn kết giữa Việt Nam với cộng đồng quốc tế.
Đổi mới đồng bộ thể chế, tổ chức bộ máy và bảo đảm nguồn lực cho công tác đối ngoại
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đổi mới đồng bộ về thể chế, tổ chức bộ máy, cơ chế phối hợp và bảo đảm đầy đủ nguồn lực cho công tác đối ngoại.
Trong đó, trọng tâm là xây dựng nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số trong lĩnh vực đối ngoại; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao chất lượng công tác tham mưu, dự báo chiến lược và quản lý nhà nước về đối ngoại.
Đồng thời, cần tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, trình độ chuyên môn cao, tư duy đổi mới, năng lực hội nhập quốc tế và khả năng thích ứng với môi trường quốc tế nhiều biến động.
Nghị quyết cũng yêu cầu bảo đảm nguồn lực tương xứng với vị thế và tiềm lực mới của đất nước, từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất, chế độ, chính sách, điều kiện làm việc và các thiết chế phục vụ công tác đối ngoại theo hướng chính quy, hiện đại, chuẩn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác đối ngoại
Nghị quyết số 06-NQ/TW khẳng định công tác đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp và toàn xã hội. Việc triển khai hiệu quả các nhiệm vụ đối ngoại sẽ góp phần quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước nhanh, bền vững, nâng cao đời sống Nhân dân và khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong thời gian tới, mỗi cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết, nâng cao nhận thức về vai trò của công tác đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chủ động triển khai các nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, toàn diện, chuyên nghiệp, vì lợi ích quốc gia - dân tộc và vì mục tiêu phát triển phồn vinh, hạnh phúc của đất nước.
Tuyên truyền những nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới

Infographic tuyên truyền Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết số 10-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương đã đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đổi mới tư duy và thống nhất nhận thức về vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế quốc dân. Theo đó, khu vực FDI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, có đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm, tăng thu ngân sách, thúc đẩy xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao trình độ công nghệ.
Để phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định và phù hợp với các cam kết quốc tế. Việc cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh phải gắn với cải cách thủ tục hành chính, xây dựng nền hành chính hiện đại, công khai, minh bạch và lấy doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Bên cạnh đó, Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, quản trị và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, hạ tầng số, các khu công nghiệp, khu công nghệ cao và trung tâm đổi mới sáng tạo nhằm đáp ứng yêu cầu thu hút các dự án đầu tư chiến lược.
Đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng có chọn lọc
Một trong những điểm mới quan trọng của Nghị quyết là chuyển từ tư duy thu hút đầu tư bằng mọi giá sang thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên chất lượng, hiệu quả, công nghệ và giá trị gia tăng.
Theo đó, việc thu hút đầu tư sẽ tập trung vào các ngành, lĩnh vực có hàm lượng khoa học và công nghệ cao, thân thiện với môi trường, tạo giá trị gia tăng lớn và có khả năng lan tỏa đối với nền kinh tế. Trong đó, ưu tiên phát triển các lĩnh vực cốt lõi như công nghiệp điện tử, sản xuất chíp bán dẫn, thiết bị số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, công nghệ sinh học, năng lượng sạch, vật liệu mới, sản xuất thông minh và các ngành công nghệ chiến lược.
Bên cạnh đó, việc lựa chọn địa bàn thu hút đầu tư cũng cần phù hợp với quy hoạch phát triển quốc gia, phát huy lợi thế của từng vùng, từng địa phương, đồng thời bảo đảm cân đối giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững.
Thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số và nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ
Nghị quyết xác định khu vực đầu tư nước ngoài cần đóng vai trò tích cực trong thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, số và bền vững.
Các doanh nghiệp FDI được khuyến khích đầu tư vào các dự án sử dụng công nghệ hiện đại, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính, phát triển kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0" của Việt Nam.
Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu tăng cường tính lan tỏa giữa khu vực doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước thông qua việc hình thành chuỗi liên kết sản xuất, chuỗi cung ứng, chuyển giao công nghệ và chia sẻ kinh nghiệm quản trị hiện đại.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần có cam kết cụ thể về nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam, từng bước nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong nước, tạo nền tảng phát triển hệ sinh thái công nghiệp hiện đại và tự chủ.
Đổi mới công tác xúc tiến đầu tư theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại
Để nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, Nghị quyết yêu cầu đổi mới toàn diện công tác xúc tiến đầu tư theo hướng chủ động, chuyên nghiệp, có trọng tâm, trọng điểm và dựa trên dữ liệu.
Thay vì xúc tiến đầu tư dàn trải, các hoạt động xúc tiến cần tập trung vào những tập đoàn đa quốc gia, các nhà đầu tư chiến lược, các lĩnh vực ưu tiên và những thị trường có tiềm năng lớn.
Việc ứng dụng chuyển đổi số, dữ liệu lớn và các nền tảng số trong hoạt động xúc tiến đầu tư sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân tích thị trường, dự báo xu hướng đầu tư, tiếp cận nhà đầu tư tiềm năng và cung cấp thông tin minh bạch, kịp thời cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, cần xây dựng hình ảnh Việt Nam là điểm đến đầu tư an toàn, hấp dẫn, ổn định và có khả năng đáp ứng yêu cầu của các chuỗi cung ứng toàn cầu trong bối cảnh mới.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với khu vực đầu tư nước ngoài
Nghị quyết yêu cầu tiếp tục đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng hiện đại, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu phát triển.
Trong đó, cần thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng giữa Trung ương và địa phương, đồng thời tăng cường cơ chế điều phối quốc gia, liên kết vùng nhằm bảo đảm tính thống nhất trong quản lý và thu hút đầu tư.
Song song với đó là tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư, đất đai, môi trường, thuế, lao động và chuyển giao công nghệ; nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp, góp phần xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, lành mạnh và cạnh tranh bình đẳng.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với đầu tư gián tiếp nước ngoài và phát triển thị trường vốn
Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết là tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với đầu tư gián tiếp nước ngoài nhằm tạo điều kiện thu hút hiệu quả các dòng vốn quốc tế phục vụ phát triển kinh tế.
Theo đó, cần phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, an toàn và bền vững; đa dạng hóa các kênh huy động vốn cho nền kinh tế; nâng cao chất lượng hoạt động của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các định chế tài chính.
Việc phát triển đồng bộ thị trường vốn sẽ góp phần giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng ngắn hạn, nâng cao khả năng huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, đồng thời tăng sức chống chịu của nền kinh tế trước những biến động của thị trường tài chính quốc tế.
Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của cả hệ thống chính trị
Nghị quyết khẳng định sự lãnh đạo toàn diện của Đảng là nhân tố quyết định thành công trong việc phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài; đồng thời phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan liên quan trong công tác tuyên truyền, giám sát và phản biện xã hội.
Cùng với đó, cần tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp nhằm xây dựng môi trường đầu tư ổn định, minh bạch, thuận lợi; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân, góp phần phát triển kinh tế nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyết tâm xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn, hiệu quả và bền vững
Những nhiệm vụ, giải pháp được xác định trong Nghị quyết số 10-NQ/TW thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc chuyển đổi mô hình thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững. Việc thu hút có chọn lọc các dự án FDI công nghệ cao, thân thiện với môi trường, có khả năng chuyển giao công nghệ và tạo giá trị gia tăng lớn sẽ góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cán bộ, đảng viên, việc nghiên cứu, quán triệt và triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW là nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, hiện đại, nâng cao chất lượng hợp tác quốc tế và tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
